Đỗ Thông Minh-Xem các trường hợp người Việt về VN đầu tư…

LGT: Ô Đỗ Thông Minh, cư trú Nhật, gom lại tất cả các trường hợp người hải ngoại về nước đầu tư và kết quả là thân tàn ma dại.Bên dưới là Nguyễn Mạnh Trinh với Hòa Hợp Hòa Giải.

Hoàng Lan Chi

Người Việt Về Đầu Tư…!

Nhân vụ GS Hồng Lê Thọ bị bắt ngày 29/11/2014

Đỗ Thông Minh

Có 1 số trường hợp người thân CS từ hải ngoại về có quan hệ cán bộ cao cấp đỡ đầu tương đối ít bị khó khăn.

Như Nguyễn Trí Dũng là Tiến Sĩ quản lý công học tốt nghiệp đại học Hitotsubashi ở Nhật Bản về VN rất sớm, thành lập và làm Giám Đốc công ty Minh Trân quận Tân Bình, sản xuất linh kiện điện tử năm 1993, trường Doanh Thương Trí Dũng, đồng thời là Chủ Tịch sáng lập Hiệp Hội Doanh Nghiệp Việt Kiều, Phó Chủ Tịch thường trực Câu Lạc Bộ Hợp Tác Việt Nhật, Phó Trưởng Ban Câu Lạc Bộ Khoa Học Kỹ Thuật Việt Kiều. Nay Dũng có cơ ngơi rộng lớn, rát hoành tráng ngay tại Sai Gòn.

http://www.nicd.co.jp/vnnews/ NguoiDuongThoi_070420.html

Nguyễn Chánh Khê là Tiến Sĩ vật liệu và khoa học xử lý thông tin tốt nghiệp đại học Tokodai, Nhật Bản, qua Hoa Kỳ rồi về năm 2002, lập công ty chế mực in và than nano và làm Phó Giám Đốc Trung Tâm Nghiên Cứu và Phát Triển Khu Công Nghệ Cao, Sài Gòn. Khê được CTN Nguyễn Minh Triết nâng đỡ, ông nói ông có 37 phát minh được thế giới công nhận, nhưng cũng đưa ra những “phát minh lớn” đầy nghi vấn như vụ “Mực in nano”, “Máy phát điện chạy bằng nước”…, không có mấy thành quả cụ thể nhưng vẫn được truyền thông CSVN tuyên truyền nên không mấy thành công về sự nghiệp và tài chính…

https://www.youtube.com/watch? v=YbRklw9cA0M

https://www.youtube.com/watch? v=2qP8qlMQVr0

Nhà cầm quyền đẩy mạnh kêu gọi người Việt ở hải ngoại về đầu tư giúp nước theo Nghi Quyết 36 của Bộ Chính Trị năm 2004. Nhưng cán bộ CS quá tham lam, nên đã có hàng trăm trường hợp người Việt ở hải ngoại về bị tước sạch, thậm chí có trường hợp bỏ mạng. Như ông Trần Kiêm Khiết, nguyên là SV du học Nhật Bản năm 1958 tốt nghiệp Kỹ Sư hóa nông nghiệp, rồi qua Hoa Kỳ học tiếp Cao Học làm cho Dupont Hoa Kỳ, năm 1994, về làm đại diện công ty Dupont Singapore, bị xô ngã chết từ lầu cao (tin công an nói là vì tim mạch nên té lầu, tin ôngNguyễn An Trung là tại thang máy đứt dây) ở Sài Gòn; ông Thiện là người tỵ nạn CS buôn đồ cũ từ Nhật Bản về làm ăn bị sát hại (bắt trói và bắn chết?) tại Hải Phòng; bà Nguyễn Thị Hiệptừ Canada về bị tử hình gấp rút bởi tội chuyển 5,1 kg ma tuý năm 1996 từ Nội Bài đi, trong khi chính phủ Canada yêu cầu chờ đối chiếu xem bà là thủ phạm hay nạn nhân… khiến gây rắc rối ngoại giao giữa 2 nước một thời gian!

Tất nhiên, cũng có người từ hải ngoại về dùng mánh khóe làm ăn, nhưng nói chung nhà cầm quyền nắm đằng cán, họ có thề dễ dàng ra tay tước đoạt.

Một số trường hợp điển hình như:

– Tiến Sĩ luyện kim Nguyễn An Trung, sang Nhật năm 1960, cầm đầu nhóm sinh viên theo CS là “BEHEITO” (“Tổ Chức Người Việt Tại Nhật Bản Đấu Tranh Cho Hòa Bình và Thống Nhất Đất Nước”, thành lập ngày 22/6/1969) ở Nhật Bản, đầu năm 1970, từng bị Tòa Án Quân Sự Đặc Biệt Vùng 3 Chiến Thuật VNCH kết án khuyết tịch 6 năm khổ sai và 20 năm mất quyền công dân (cùng với Lê Văn Tâm và Nguyễn Hồng Quân).

Nguyễn An Trung ly dị vợ Nhật (có tin về VN lấy con gái Tướng Công An) về VN mở Saigon Auto và làm Tổng Giám Đốc, chuyên đổi tay lái ngược hàng chục ngàn xe cũ chuyên dụng nhập từ Nhật Bản, đã giúp vực dậy cả ngành giao thông xuống cấp thê thảm khi ấy (những năm 1976-90, có xe phải chạy bằng than đun trên nóc hay sau lưng, tốc độ khoảng 30 km/giờ). Sau cả hơn chục năm làm ăn, với khoảng 50 Kỹ Sư và 400 nhân viên, năm 1994, đột nhiên ông bị vu cho vi phạm luật pháp và nhập cảng lậu, mặc dù văn thư của TT CSVN Võ Văn Kiệt ký 3 ngày sau khi xe về tới cảng, bị giam 10 tháng. Khi ở trong tù, ông Trung đã viết thư kêu cứu với “Ngài Đỗ Mười”, cựu sinh viên tại Nhật như Huỳnh Mùi tại VN, Huỳnh Trí Chánh (Chủ Tịch Tổng Hội Người Việt Nam Tại Nhật theo CS)… và 1 số người Nhật cũng nhào vào cứu ông.

http://huongdaophuyen. blogspot.fr/2013/05/xe-hoi-o- tu-chay-xang-dau-chuyen-sang. html

Thấy chuyện quá bất bình, Luật Sư Nguyễn Thành Vĩnh dù đã già gần 80 tuổi đã đứng ra biện hộ cho ông. Tháng 2/1995, ra tòa sơ thẩm bị cảnh cáo, rồi phúc thẩm ngày 5/7/1995, sau phiên tòa gay cấn và rõ trắng đen ông mới trắng án, nhưng đã bị tước đoạt 118 chiếc xe trong chuyến tàu chót trị giá hơn 1 triệu đô-la Mỹ là tang vật đã bị công an tịch thu, hóa giá bán chia chác cho nhau.

Theo nhà báo Minh Tuấn làm cho Mặt Trận Tổ Quốc (sau cũng lấy vợ kế người Nhật và di dân qua Nhật) trong bài “118 Ôtô Tay Lái Nghịch Và Số Phận Của Việt Kiều Nguyễn An Trung” trên trang nhà Việt Báo:

Sau này ông Trung kể lại: Những ngày nằm trong nhà giam Chí Hòa, ông cảm thấy có những lúc tuyệt vọng. Bởi mục đích của ông chẳng có gì xấu, nhưng khi vấp rào cản của cơ chế hành chính quan liêu, ông đã phải trả một giá quá đắt…

Trong phiên tòa bào chữa cho Nguyễn An Trung, chính Luật Sư cũng khóc. Ông giơ cao quyển sách ở Nhật viết về Nguyễn An Trung trong phong trào phản chiến, giơ cao những chứng cứ rất thuyết phục về luật “bất hồi tố” và giơ cao tất cả hình ảnh về 118 xe tay lái nghịch mà UBND TP. Hồ Chí Minh vẫn đang giữ. Tất cả đều là xe ép rác, xe hút bùn. Chi tiết này đã làm “bật ngửa” tất cả các vị Thẩm Phán và Hội Thẩm Nhân Dân tham gia xét xử. Họ đọc hồ sơ vụ án và đều đinh ninh rằng ông Trung đã nhập gần như toàn bộ là ôtô con để trốn thuế và bán kiếm lời ở VN…

Phiên phúc thẩm kết thúc được vài tháng, tại kỳ họp Quốc Hội cuối năm 1995, một quan chức cao cấp của Quốc Hội gặp tôi và nói là Chính Phủ đã bị cơ quan có trách nhiệm báo cáo sai sự thật về vụ ông Nguyễn An Trung, nói rằng ông Trung chuyên nhập lậu xe ôtô 4 chỗ ngồi, nên đã có sự chỉ đạo sai trái về vụ ông Trung. Vị quan chức này nói việc xử lý oan ông Trung quả là điều rất đáng tiếc. Nhưng việc làm oan “đáng tiếc” đó không làm quan chức nào ở TP. HCM mất chức cả…

Sau ông Trung phải xin cho cả gia đình di dân qua Úc, nhưng vẫn thường xuyên ở VN làm ăn, thế nên họa vô đơn chí.

Theo Luật Sư Phan Trung Hoài trong bài “Khi Hoa Anh Đào Nở” trên trang nhà báo Lao Động ngày 1/4/2011:

Bản thân tôi cũng có được những trải nghiệm, liên đới nhiều đến nước Nhật và người Nhật, từ việc bênh vực cho ông Nguyễn An Trung – 1 Việt kiều Nhật Bản có nhiều đóng góp cho đất nước cả thời chiến tranh lẫn thời bình – trong vụ án 118 ô tô tay lái nghịch cách đây hơn 17 năm, rồi bây giờ vất vả trong hành trình tố tụng liên quan 1 khách hàng là Giám Đốc Ban Quản Lý Dự Án có sử dụng vốn ODA và chuyên gia tư vấn của Nhật Bản…

http://vietbao.vn/Phong-su/ 118-oto-tay-lai-nghich-va-so- phan-cua-Viet-kieu-Nguyen-An- Trung/30114756/263/

http://laodong.com.vn/Tin-tuc/ Khi-hoa-anh-dao-no/38205

– Bác Sĩ Bùi Duy Tâm (Tiến Sĩ Y Khoa và TS Sinh Hóa, Bác Sĩ Y Học Cổ Truyền (O.M.D) và Châm Cứu, từng là Khoa Trưởng đại học Y khoa Huế, đại học Y Khoa Minh Đức…) sau 30/4/1975, bị bắt giam tại Trảng Lớn, Tây Ninh. Ông nhờ có 1 người thân làm lớn trong nhà cầm quyền mới, ngày 2/9/1975 được thả về, dạy đại học Nha Y Dược, từng cùng Trung Tướng Công An Dương Thông (Tổng Cục Trưởng Phản Gián Bộ Nội Vụ) giúp CSVN bán kho đạn Long Bình, dầu thô…

Trong 1 lần ĐT Võ Nguyên Giáp, khi đó là Phó Thủ Tướng phụ trách Khoa Học – Kỹ Thuật kiêm Chủ Tịch Ủy Ban Quốc Gia Dân Số và Sinh Đẻ Có Kế Hoạch, đến nói chuyện với giới trí thức, BS Tâm đã phải nêu lên nỗi khổ tâm là làm sao tôi có thể làm việc dưới quyền 1 người không đáng là học trò của học trò mình!?

Năm 1980, BS Tâm cùng gia đình vượt biên tới Mã Lai, qua định cư tại HK, sau đó về VN nhiều lần.

Ngày 12/4/1991, BS Tâm bị bắt, ngày 14/4/1991, nhà văn Dương Thu Hương cũng bị bắt (giam 8 tháng không xét xử, do chính phủ Pháp can thiệp mà được thả ra) vì tội “gián điệp”.

Chính BS Bùi Duy Tâm thổ lộ là đã cho Trung Tướng Công An Dương Thông rất nhiều tiền vì đã 2 lần cứu ông khỏi trại giam (bị nhà văn Dương Thu Hương thu băng đoạn tâm sự này trong lần đi chơi chung ở sông Đà).

BS Tâm về VN, bỏ ra cả triệu đô-la Mỹ mua máy móc rất hiện đại, mở phòng mạch mổ tim tại Sài Gòn. Nhưng rồi bị CSVN đội cho cái mũ “gián điệp CIA”, không đưa ra tòa nhưng yêu cầu ông để lại phòng mạch và tất cả dụng cụ, ra khỏi VN trong vòng 6 tiếng đồng hồ.

Về lại HK ông vận động chống CSVN, nhưng rồi vẫn còn muốn hòa hợp hòa giải (?) với CS, lại tiếp đón phái đoàn Phó Thủ Tướng Trương Vĩnh Trọng ngày 16/11/2009 (khi đó BS Tâm đã gần 80 tuổi) tại nhà riêng ở San Francisco, Cali…

http://www.tienphong.vn/xa- hoi/186303/Nguoi-Viet-dau- tien%C2%A0-len-Bac-Cuc.html

http://danhnguyen.multiply. com/journal/item/24

http://www.diendan.org/tai- lieu/bao-cu/so-012/dang-sau- vu-dt-huong

– Tiến Sĩ toán Huỳnh Mùi, theo CS, thành viên BEHEITO từ Nhật Bản về rất sớm vào năm 1977, lập ra đại học Dân Lập Thăng Long ở Hà Nội (là đại học dân lập đầu tiên) và làm Hiệu Trưởng, khi khá vững vàng rồi thì bị truất quyền, chỉ cho làm Giáo Sư. Năm 2000, ông lập trường Công Nghệ Thăng Long và làm Hiệu Trưởng.

– Trịnh Vĩnh Bình, năm 1976, tỵ nạn qua Hà/Hòa Lan, tốt nghiệp đại học, tham gia đảng chính trị Dân Chủ Tự Do, là đảng cầm quyền cuối thập niên 1980 ở Hà Lan, là “vua chả giò”. Năm 1990, ông Bình tháp tùng đoàn doanh nghiệp Hà Lan đến VN thăm dò đầu tư rồi quyết định đóng cửa công ty chả giò ở Hà Lan, đem 2.328.250 đô-la Mỹ tiền mặt, và 96 kí vàng về đầu tư địa ốc, sản xuất nông, ngư sản…

Ông Bình thành lập công ty Tín Thành ở Sài Gòn, xuất cảng nông, thủy sản, công ty Bình Châu có nhà máy hải sản đông lạnh ở Vủng Tàu. Mua một số nhà đất ở Sài Gòn và BR/VT, dùng trên 200 hecta đất ở Bà Rịa để trồng rừng, nghiên cứu việc nuôi tôm… Xây dựng cơ sở biến chế thủy hải sản xuất cảng, với sản lượng 35% trên tổng số đánh bắt ở BR/VT, xây khách sạn 10 tầng. Sau 6 năm thành công trong kinh doanh, tài sản lên tới 6 tỷ đồng VN.

Việc kinh doanh phát đạt nhưng năm 1996, bị nhà cầm quyền và công an cấu kết với nhau hãm hại, bắt giam ở phòng cảnh sát điều tra PA-42 do Trung Tá Ngô Chí Đan làm Trưởng Phòng với lý do trốn thuế, mượn tên người khác đứng mua, kể cả tội làm gián điệp… Gia đình khiếu nại và đã có sự can thiệp mạnh mẽ của chính phủ Hà Lan.

Ngày 13/5/1998, sau khi xem hồ sơ, TT CSVN Phan Văn Khải phê và gởi qua Bộ trưởng Công An Lê Minh Hương, nguyên văn như sau: “Anh chỉ đạo cho công an Bà Rịa-Vủng Tàu xem lại trường hợp của Trịnh Vĩnh Bình. Thủ tướng Hoà Lan đã đặt vấn đề. Tôi đã hỏi trực tiếp một số đồng chí lãnh đạo tỉnh Bà Rịa-Vủng Tàu, anh Bình không có lỗi đến mức phải xử. Do anh dựa vào người trong nước, bị họ lừa gạt, làm bậy”.

Lê Minh Hương chuyển bút phê của TT Khải xuống cho Thứ Trưởng Công An Nguyễn Khánh Toàn, đề nghị giải quyết theo chỉ thị của ông Khải. Câu chuyện tưởng như vậy là yên, nhưng không ngờ, năm 1998, Trịnh Vĩnh Bình bị đưa ra tòa án Nhân Dân tỉnh Bà Rịa-Vủng Tàu và bị kêu án nặng nề 13 năm tù, phạt 480 lượng vàng (do khám xét công ty tịch thu) và tịch thu toàn bộ tài sản khoảng 6,2 tỷ Đồng về tội “kinh doanh bất hợp pháp” (trốn thuế) và tội lo hối lộ. Truyền thông VN cũng hùa theo công an bôi nhọ ông Bình nên ông kháng án.

Những người khác có Phó CTN Nguyễn Thị Bình, Bộ Trưởng Ngoại Giao Nguyễn Mạnh Cầm, Nguyễn Dy Niên cũng đã phải can thiệp nhưng đành phải bó tay.

Ông Bình đã trả lời phỏng vấn của đài RFA như sau: Công ty tôi có một số anh em cấu kết nhau, ăn cắp một số tiền ước lượng mấy trăm ngàn đô la qua nhiều năm tháng. Sau khi bị phát hiện, họ sợ bị tù tội nên dùng tiền bạc đút lót cho công an địa phương, phòng đó là PA-42, phòng cảnh sát điều tra Vủng Tàu. Đó là Giám Đốc, Phó Giám Đốc và Trưởng Phòng Tài Chánh của tôi, thành một hệ thống ăn cắp. Bên công an nhận hối lộ, tìm cách bao che. Họ ra tay trước. Chụp mũ công ty tôi trốn thuế, khám xét công ty và bắt giam tôi.

Việt kiều về nước không được quyền mua nhà đất, cho nên phải nhờ thân nhân đứng tên. Một số người bà con lật lọng, tráo trở, giật tiền, tôi ở trong trường hợp đó… Đây là vụ án mà tôi bị hàm oan. Qua một thơi gian dài, gia đình tôi, bản thân tôi và một số người binh vực công lý, đã gởi nhiều đơn khiếu nại khắp nơi, nhưng không được cứu xét. Cuối cùng, tôi phải dựa vào Hiệp Ước thương mại giữa VN và Hà Lan, đưa vụ tranh chấp ra Toà án Quốc Tế thuộc Liên Hợp Quốc. Sau một thời gian tại ngoại, tôi rất lo ngại cho mạng sống của mình, có thể bị bắt và bị giết, cho nên tôi phải đào thoát khỏi VN…

Đầu tháng 4/2005, ông Bình chính thức nạp đơn lên toà án Quốc Tế đòi bồi thường 100 triệu đô-la Mỹ.

Đầu năm 2000, chính phủ Hà Lan phổ biến một tập tài liệu 752 trang về vụ án của ông Bình.

GS J.J.C. Voorhoever, là 1 trong 18 thành viên của Hội Đồng Chính Phủ Hoà Lan, cựu Bộ Trưởng Quốc Phòng HL, cụu Chủ Tịch đảng Dân Chủ Tự Do mà ông là một đảng viên… tích cực đứng ra vận động.Thủ Tướng HL, Wim Kok và Bộ Trưởng Ngoại Giao Van Aartsen gởi thơ trực tiếp cho CTN Trần Đức Lương yêu cầu giải quyết vụ án Bình, đồng thời, triệu tập Đại Sứ CSVN là Đinh Hoàng Thắng lên để phản đối.

Hà Lan tỏ thải độ cứng rắn, cắt viện trợ phát triển và nhân đạo cho VN. Trong năm 2000, có các phái đoàn của Trần Đức Lương, Nguyễn Văn An (QH), Phan Văn Khải, Nguyễn Dy Niên (NG), Nguyễn Đình Bin… đều bị chất vấn và chống đối. Báo chí nổi giận gọi họ là “Những khách không mời mà đến.”, gọi họ là “Những con vẹt chỉ biết nói mà không biết nghe.”. Trong khi đó, báo chí VN thì cho rằng các chuyến công du thành công mỹ mãn.

Bà Margareeth de Boer, Chủ Tịch Ủy Ban Ngoại Giao Hạ Viện dẫn một phái đoàn sang VN, trực tiếp gặp Bộ Trưởng NG Nguyễn Dy Niên nhấn mạnh: “Vì quyền lợi của hai nước, vụ án TVB phải được giải quyết tức khắc.”. Nhưng kết quả, Hà Lan chỉ nhận được 1 công hàm của Bộ Ngoại Giao CSVN, thông báo với nội dung là “Bắt đúng người, xử đúng tội, áp dụng đúng luật pháp.”.

Thế nhưng, ngày 4/11/2001, tại đại hội Đảng Bộ Vũng Tàu, Trung Ương Đảng cho rằng vụ Trịnh Vĩnh Bình là một vụ xử sai lầm, làm giảm sút niềm tin của nhân dân, ảnh hưởng đến đầu tư nước ngoài, vì thế, cấp trên thi hành kỷ luật đảng bộ Vủng Tàu. Sau đó, Trung Tá Ngô Chí Đan bị cách chức, tước danh hiệu Công An Nhân Dân và Nguyễn Trọng Minh bị mất chức Chủ Tịch UBND tỉnh BR/VT.

Ở Hà Lan, một luận án Tiến Sĩ đệ nạp tại đại học Luật Khoa Den Haag, trình bày rõ ràng trường hợp đầu tư của ông Bình, dựa theo Hiệp Ước Thương Mại giữa 2 nước VN và HL ký kết năm 1994. Luận án được in thành sách với 3 thứ tiếng, Hà Lan, Anh và Pháp. Một bản tiếng Việt được phát hành sau đó. Luận án nêu rõ luật rừng ở VN, sự lộng hành của công an VN, phép vua thua lệ làng, cuối cùng đưa người đầu tư đến tù tội và bị tịch thu tài sản.

Ngày 28/3/2005, Nghị Sĩ Jules Maaten, Quốc Hội Liên Âu (EU), từ Brussels cho biết, vụ án TVB đã gây hoang mang trong giới đầu tư ở châu Âu. Vụ án là một tác động tiêu cực đến quan hệ giữa EU và VN.

Tháng 6/2005, khi Phan Văn Khải sang thăm Hoa Kỳ, kêu gọi ngoại quốc và người Việt đầu tư vào VN, thì các cơ quan truyền thông đồng loạt loan tin CSVN âm mưu chiếm đoạt tài sản của Việt kiều Trịnh Vĩnh Bình. Đài RFA, RFI, BBC và rất nhiều cơ quan truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại… đều phổ biến bài phỏng vấn ông Bình.

Ngày 4/12/1996, một thân nhân của TVB là Trịnh Hiền Thanh vu cáo TVB đưa hối lộ, khiến cho TVB bị bắt giam. Việc vu cáo nằm trong âm mưu của công an BR/VT. Đến ngày 24/6/2002, Trịnh Hiền Thanh thú nhận bằng văn bản là y đã vu cáo cho TVB. Hiền Thanh chết vài năm sau đó do bịnh tiểu đường.

Nhưng mới đây, ngày 7/4/2011, Trưởng Cục Thi Hành Án Dân Sự tỉnh BR/VT tên Trần Văn Mười cùng Lê Huy Hoàng và Hoàng Anh Linh bị bắt giam về tội “Lợi dụng chức vụ quyền hạn trong khi thi hành công vụ.”. 3 người bị bắt đã vi phạm nghiêm trọng trong vụ án Trịnh Vĩnh Bình.

Ngày 15/10/2003, ông Trịnh Vĩnh Bình đã chính thức nhờ Tổ Hợp Luật Sư Covington Burling, có trụ sở ở Anh và Hoa Kỳ, đứng ra kiện nhà cầm quyền VN đòi bồi thường 100 triệu đô-la Mỹ, ông TVB ký quỹ 150.000 đô-la Mỹ.

Đầu tiên, LS Thomas Johnson, đại diện cho ông Bình gởi thơ cho Viện Trưởng Viện Kiểm Sát ND Tối Cao VN là Hà Minh Trí, đề nghị dàn xếp giữa hai bên. Nhưng nổ lực dàn xếp kéo dài gần 2 năm không có kết quả.

Tháng 5/2004, ông Bình chính thức nạp đơn lên Tòa Án Quốc Tế thuộc Liên Hợp Quốc và tòa dự trù sẽ mở phiên tòa xét xử tại Stockholm, thủ đô Thụy Điển vào cuối năm 2005. Phía CSVN, cũng đã ký quỹ 150.000 đô-la Mỹ để nhờ Tổ Hợp LS Pháp Glide Loyrette Rouel, có văn phòng tại Hà Nội. Tòa Án Quốc Tế thông báo sẽ mở ra xét xử từ ngày 4-12/12/2005. 3 tuần lễ trước phiên xử, Tổ hợp LS Hoa Kỳ tăng số tiền đòi bồi thường lên thành 150 triệu đô-la Mỹ theo thời giá mới. Nhưng tòa tuyên bố tạm hoãn, vì lý do 2 bên thỏa thuận dàn xếp bên ngoài tòa. Chính những văn bản và tài liệu chính thức của các quan chức VN đã xác nhận TVB vô tội. Cụ thể là bút phê của TT Khải, NT Nguyễn Dy Niên thừa nhận với quan chức Hà Lan “Có sự sai sót trong vụ án TVB và hứa sẽ yêu cầu các cơ quan chức năng điều tra lại.”.

Ông Trịnh Vĩnh Bình đã giữ lời hứa với nhà cầm quyền VN là không tiết lộ số tiền mà VN bồi thường, nhưng có tin là khoảng 100 triệu đô-la Mỹ. Thực ra là bọn quan tham địa phương ngụy tạo hồ sơ, lừa bịp cả Chính Trị Bộ nên mới xử vụ án quái lạ như vậy, và cuối cùng nhà cầm quyền CSVN vừa mất mặt, vừa mất rất nhiều tiền!

Nhà cầm quyền đã từng quá ê mặt sau vụ Vietnam Airlines khi đơn phương phá hợp đồng với văn phòng LS Ý Manizio Liberato bị kiện năm 1994 nên phong tỏa các trương mục trên toàn Âu Châu, năm 2009 đã phải trả 5,2 triệu Euro (tương đương 7 triệu đô-la Mỹ). Hai vụ này cũng như vụ Saigon Auto của Nguyễn An Trung gây tai tiếng tầm vóc thế giới, thể hiện lối làm việc gian manh, cẩu thả, vô trách nhiệm của nhà cầm quyền CSVN.

– Tiến Sĩ ngư nghiệp Huỳnh Trí Chánh (Chủ Tịch Tổng Hội Người Việt Nam Tại Nhật theo CS, kiêm Chủ Tịch “Hội Chống Bá Quyền Trung Quốc”), du học Nhật Bản năm 1963, từng là thành phần lãnh đạo trong BEHEITO, tổ chức cướp TĐS VNCH tại Tokyo đêm 30/4/1975 nhưng không thành (khi đó có 24 sinh viên theo CS bị cảnh sát Nhật bắt giữ). Khi về VN chia sẽ nhưng kinh nghiệm học hỏi ở NB, nhưng nói chuyện thẳng thắn có ý phê bình nhà cầm quyền, không đúng đường lối nên đã từng bị công an giữ thông hành (hộ chiếu). Ngày 22/1/1990, khi Đông Âu sụp đổ và Liên Xô nguy ngập, ông Chánh từng cùng hơn 700 Việt Kiều thân CS khác khắp nơi trên thế giới ký tên trong “Tâm Thư” (có tất cả 4 bản khác nhau) yêu cầu đảng và nhà nước CSVN chấp nhận dân chủ hóa… Trong “Tâm Thư” có đoạn:

… Kêu gọi các nhà lãnh đạo hiện nay của VN, vốn đã có công lớn trong cuộc đấu tranh giành độc lập và thống nhất đất nước, hãy vì quyền lợi tối cao của dân tộc, sớm cải tổ hệ thống chính trị hiện có bằng cách :

1. Thực sự tách rời các định chế của Nhà nước ra khỏi bộ máy chính đảng để cho Nhà nước thu hồi trọn vẹn những quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp của mình, để cho không một ai cũng như không một tổ chức nào có thể đứng trên và chi phối Nhà nước.

2. Thiết lập một nền dân chủ đa nguyên, thực sự bảo đảm an toàn cá nhân và các quyền tự do ngôn luận, báo chí, hội họp, lập hội, lập đảng… nhằm tạo điều kiện cho mọi người Việt Nam, không phân biệt quá khứ, chính kiến hay tôn giáo, tham gia luận bàn và, đặc biệt thông qua tuyển cử tự do, làm và kiểm tra việc nước.

3. Ngay trước mắt, mở ra cuộc đối thoại thành tâm với toàn thể xã hội, để toàn dân bàn định một cương lĩnh hành động và đề ra những biện pháp cấp bách đặt nền tảng cho một chế độ thực sự lấy dân làm gốc…

Chính vì vậy nên đã có lúc tên ông bị ghi vào sổ đen không cho nhập cảnh. Ông đã nói ý rằng họ từ trong rừng ra nên dùng “luật rừng”!

http://www.diendan.org/tai- lieu/tam-thu/

Ông Chánh từng tuyên bố ở TĐS CSVN tại Tokyo khi Liên Xô sụp đổ: “Bây giờ VN mới thực sự được độc lập.”.

Tuy ngày 30/6/2007, ông là 1 trong 19 người Việt kiều được Đại Sứ Quán Việt Nam tại Nhật Bản tổ chức trao Bằng Khen của Bộ Trưởng Ngoại Giao và Chủ Nhiệm Ủy Ban Người Việt Nam Ở Nước Ngoài nhưng không được tin dùng và bản thân ông cũng thấy chán ngán! Những chuyện của ông Chánh bề ngoài có vẻ Việt Kiều yêu CS nhưng có dịp ở gần mới biết.

– KS Nguyễn Vĩnh Trường du học Nhật Bản năm 1972, về VN mở trường Nhật Ngữ Sakura ở Sài Gòn năm 1989, với tên ban đầu là Trung Tâm Văn Hóa Việt-Nhật, là trường chính quy đầu tiên thuộc loại này. Khi trường phát triển có khoảng 700 học sinh thì bị Thành Ủy nói phải đưa cho nhà nước quản lý, thế là giáo viên Nhật quá giận bỏ đi, trường cũng tan. Sau ông Trường đã phải mất nhiều công sức lập lại.

– Thạc Sĩ kinh tế Nguyễn Trung Trực (sau lấy Trịnh Vĩnh Trinh, em Trịnh Công Sơn) ở Úc, năm 1989, bắt đầu đầu tư Ngân Hàng Thương Mại, Bảo Hiểm Prudential, địa ốc, phân phối xe du lịch, xe máy, hàng tiêu dùng… Năm 1997, Nguyễn Trung Trực bị cơ quan an ninh tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu khởi tố về hành vi "vận chuyển trái phép hàng hóa qua biên giới", năm 1998, bị xử tù 5 năm. Có tin cho là Trực xin hoãn án rồi bỏ trốn. Năm 2008, sau khi cùng Bộ Trưởng Kế Hoạch – Đầu Tư Võ Hồng Phúc đi Hoa Kỳ trở về thì Trực bị bắt tại phi trường Tân Sơn Nhất, mà cho là sau 6 năm trốn lánh. Rốt cục Trực đã phải chạy chọt nên cũng chỉ bị giam vài tháng rồi thả ra.

– GS Nguyễn Đình Hoan ở Hoa Kỳ về mở trường Trường Quốc Tế Hà Nội (liên doanh giữa Trung Tâm Công Nghệ Giáo Dục – Bộ Giáo Dục và Đào tạo và Công ty ISD của Hoa Kỳ) dạy bậc tiểu và trung học bằng Anh ngữ… Sau 10 năm hoạt động đã bị bắt bỏ tù năm 2006. Trong tù vẫn ngày ngày nghe loa phát lời kêu gọi về đầu tư, giúp nước.

– Nguyễn Gia Thiều ở Pháp, về đầu tư, kết hôn với hoa hậu Hà Kiều Anh, làm Giám Đốc công ty Đông Nam. Năm 2005, bị bắt, kết tội "buôn lậu" và "trốn thuế" với bản án 20 năm tù và phạt số tiền 98,2 tỷ đồng, tịch thu tài sản, được ân xá năm 2009. Kết cục, cuộc tình đã tan nát (đã ly dị), mất tiền và lãnh tội…

– Trần (Văn) Trường, bỏ 40 công đất (1 công = 1.000 m2) đi tỵ nạn, nổi tiếng sau khi về Hà Nội vài lần, từng tiếp xúc với Thiếu Tá công an Dương Ngọc Tiến làm tại báo Công An TPHCM, rồi trở qua treo cờ CSVN và hình Hồ Chí Minh ngay tại cửa tiệm ở ngay khu Bolsa, Little Saigon, Cali, năm 1999… bị người Việt biểu tình chống suốt 53 ngày, có lúc lên tới khoảng 20.000 người. Sau này khi về nước làm ăn, Trần Trường được Thiếu Tá Tiến đón cho ở 1 căn nhà thuê tại Hà Nội 3 tháng trước khi về Đồng Tháp nuôi cá.

Tháng 2/2005, vợ chồng anh bán nhà, đem khoảng 200.000 đô-la Mỹ về VN, đầu tư 7 tỷ đồng mua 33 công đất dựng nhà, nuôi cá, được báo Công An phỏng vấn…

Anh ta từng la lớn với cán bộ và công an ức hiếp anh: “Dẹp hết tụi này mới được. Dẹp hết tụi này mới được. Làm ăn như con c. vậy đó. Chuyên môn hà hiếp dân. Chém chết mẹ tụi bay hết… Tôi thấy đủ rõ hết rồi. Chính quyền phải lo cho dân, chứ không lừa gạt dân như thế này… Lấy đất của người ta mà không cho biết gì hết, vừa ăn cướp, vừa la làng khổng? Chính quyền gì kỳ vậy?…”.

Trần Trường từng bị chủ nợ thuê “xã hội đen” đánh trọng thương. Sau anh bị “lừa”, tước đoạt hết, rồi vợ hóa điên và bỏ anh. Bây giờ giấc mơ của anh ta là làm “HCM Thời Đại” (“Bác Hồ Thời Đại”, ý anh ta là làm lại cuộc cách mạng đã bị phản bội!) để diệt bọn cán bộ CS hủ hóa, làm sai lời HCM…

Ngày 8/4/2011, tòa án huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp do ông Trần Văn Nhã làm Chánh Án đã xử thu đất (trị giá khoảng 30-40 tỷ đồng hay 150.000-200.000 đô-la Mỹ) của anh mà anh vắng mặt, sau đó anh kháng cáo. Anh lên diễn đàn Paltalk kể lể, than khóc, kêu gọi hải ngoại đóng góp vào quỹ của anh để giúp anh chống tham nhũng, có lúc phẫn chí, anh đã nói với mọi người là muốn tự tử!

Trần Trường làm ăn cụt vốn, đi nhiều diễn đàn trên Paltalk Internet xin tiền và vay tiền cả năm trời mà hầu như không kết quả. Ngày 8/5/2012, bí quá, trước lời thách thức và sẽ cho 10.000 đô-la Mỹ của anh “Ba”, anh đã chặt gần lìa 1 đốt/lóng ngón giữa tay phải trước ống kính webcam cho mọi người trên diễn đàn Người Việt Bàn Luận Chính Trị Xã Hội xem, để chứng tỏ sự “quyết tâm và thành thật” của anh ta! Phải đi nhà thương khâu, vết thương mất 3 tuần mới lành. Vì ngón tay không đứt nên anh “Ba” không trao tiền.

Ngày 31/5/2012, khoảng 30-40 công an và an ninh… cưỡng chế phá căn nhà khá bề thế, thu đất và đuổi Trần Trường đi, trong lúc anh đang tuyệt thực, tuyệt ẩm để phản đối và hát cải lương ca tụng HCM… Người nhà dùng máy video thu hình thì bị tước đoạt.

Sau đó thì Trần Trường sống trong căn nhà lá với hình HCM treo trên vách và dùng nickname “Bác Hồ Thời Đại” trên Paltalk.

Ngày 13/11/2012, Trần Trường về lại Hoa Kỳ lần thứ 2 để kiếm tiền về VN “đấu tranh” và vận động lấy lại tài sản bị mất ở VN sau 8 năm về sống và làm ăn tại VN. Nên anh đã có buổi họp báo do nhà báo Lê Bình, Câu Lạc Bộ Báo Chí Bắc Cali giới thiệu, ở nhà hàng Hội An, San Jose, Cali, với sự giúp đỡ của ông Nguyễn Xuân Tùng (nickname “Văn Lang” trên Paltalk). Có gần 20 người dự, khoảng 1/2 thuộc giới truyền thông, trong khi trên Paltalk có khoảng 250 người nghe.

Dịp này, mở đầu Trần Trường đã “thành thật” xin lỗi cộng đồng vì việc treo hình HCM và cờ CS trước đây, nhận là việc làm thiếu ý thức ấy đã đụng chạm vào nỗi đau đớn của người Việt hải ngoại. Sau đó Trần Trường kể lại nguyên do làm ăn thất bại tại VN phải bán cả nhẫn cưới, răng vàng, phải mò ốc, bắt cua để sống… và trả lời các câu hỏi.

Khi phóng viên Nghê Lữ của Cali Today hỏi vậy bây giờ anh có đả đảo HCM, đả đảo đảng CSVN không thì Trần Trường trả lời: “Nếu nói đả đảo HCM, đả đảo đảng CSVN để xóa đi những di biệt, thù hận, thông cảm và thương lòng của tôi. “Đả đảo HCM, đả dảo đảng CS.” tôi sẵn sàng nói. Tôi đang nói và đã nói.”.

Khi Trần Trường dùng từ “bác Hồ” thì bị nhiều người phản đối, nói phải gọi là “thằng Hồ”, Trần Trường xin lỗi là nói theo thói quen trong nước… Khi có người đặt vấn đề phải dứt khoát Quốc Gia hay Cộng Sản thì ông Nguyễn Xuân Tùng hỏi: “Trần Trường có sẵn sàng quỳ xuống xin lỗi đồng bào không?”, Trần Trường cho hay: “Được” và cho hay: “Tâm hồn tôi đã về với Việt Nam Cộng Hòa, tôi sẵn sàng quỳ xuống xin lỗi những người VNCH về những gì tôi đã làm sai. Nhưng thân xác tôi, tôi phải sống ở trong nước… nhờ anh em VNCH cho tôi cái phao.”.

Trần Trường bị chất vấn, nhưng phần lớn trả lời lòng vòng, mâu thuẫn, nhất là khi bị hỏi về “đạo đức” HCM mà Trần Trường cho là “tài giỏi” và đảng CS có “người tốt”… Mục đích chính của Trần Trường trong chuyến này là để gây quỹ để về VN “đấu tranh”. Ông Trần Trường nói rằng: “Nếu đòi đất lại thành công, Trần Trường sẵn sàng cắm cờ vàng VNCH trên mảnh đất của ông tại tỉnh Đồng Tháp.” để chuộc lại lầm lỗi mà ông gây ra năm 1999… Trần Trường dự trù 3 tuần sau về VN nhưng rồi bệnh tim tái phát phải nhập viện…

Ngày 14/11, chính ông Nguyễn Xuân Tùng nói về cuộc họp báo này trên Paltalk thì “Trần Trường thất bại.”. Qua đầu năm 2013, Trần Trường vẫn chưa về VN mà ở lại HK làm việc.

http://www.youtube.com/user/ trantruong100

http://www.youtube.com/user/ trantruong100#p/a/u/1/ zfDg26ifnoc

http://www.youtube.com/user/ trantruong100#p/a/u/2/ iUEJmfeY0ic

http://www.truyenhinhvietnam. us/index.php?option=com_ content&view=article&id=460: trn-trng-hp-bao-ti-san-jose-i- din-vi-s-phn-i-ca-gii-truyn- thong-&catid=1:tin-tc-ngh-s& Itemid=2

– Giới văn học như GS TS Nguyễn Hưng Quốc (tên thật là Nguyễn Ngọc Tuấn), Trưởng Ban Việt Học đại học Victoria, Úc, là nhà phê bình văn học, sau nhiều lần về VN đã viết cuốn"Văn Học Việt Nam Dưới Chế Độ Cộng Sản" (thuần tuý văn hóa phi chính trị),dù có chiếu khán do TĐS CSVN cấp, nhưng đến 2 lần bị chặn tại phi trường không cho vào. Đó là 1 lần dẫn sinh viên Úc đi du khảo thực tập năm 2005 tại phi trường Tân Sơn Nhất và 1 lần được mời về tham dự hội thảo do trường Đại Học Mở Hà Nội (Hanoi Open University) và Đại Học Monash, Úc mời về thuyết trình với đề tài “Quan Điểm Từ Á Châu: Vai Trò Của Ngôn Ngữ Và Giáo Dục Đa Văn Hóa…” năm 2009 tại phi trường Nội Bài. Nhân viên an ninh không cho biết lý do cụ thể, chỉ nói là “Nhà nước Việt Nam không hoan nghênh anh vào Việt Nam.”, cả khi ông được mời về Việt Nam, chớ không phải tự ý về, kể cả khi đã có visa vào Việt Nam.

Biên bản trục xuất Nguyễn Hưng Quốc.

http://dactrung.net/phorum/tm. aspx?m=448309&mpage=1&#448427

– Giới văn nghệ như ca sĩ Khánh Ly, được đài TV NHK của Nhật Bản mời thu phóng sự “Khánh Ly, Tiếng Hát Của Sự Đoàn Tụ”, giờ chót mới được cấp chiếu khán về VN, nhưng cảnh sinh hoạt với Trịnh Công Sơn… ở VN phải do nhân viên nhà nước CSVN quay. Đài TV NHK đã chọn chiếu cuốn phim đúng vào ngày 29/4/1997. Sau này, năm 2014, Khánh Ly về hát kiếm tiền tại Hà Nội 2 lần (có tin là thù lao 50.000 đô-la M/1 lần), lần đầu khá đông khách, nhưng lần sau chỉ độ 1/2 rạp… Vân Sơn thuộc trung tâm Vân Sơn, ông Tô Văn Lai thuộc Thúy Nga… cũng gặp rắc rối như tịch thu video vừa quay với giấy phép hay bắt giam bầu Huỳnh Trinh Thuần ở Úc khi về làm việc tại VN.

– Năm 2005 và 2007, Thiền Sư Thích Nhất Hạnh cùng hàng trăm đệ tử về VN cả mấy tháng, gặp CTN Nguyễn Minh Triết, đi thuyết pháp công khai… TS Thích Nhất Hạnh đã bỏ ra khoảng 1 triệu đô-la Mỹ lập tu viện Làng Mai – Bát Nhã ở Lâm Đông… sau đó năm 2009, tất cả 400 tăng ni xuất gia bị đàn áp dã man, đuổi đi và tài sản bị Thượng Tọa Thích Đức Nghi (từng từ VN qua Pháp xin theo phái “tiếp hiện” của Thích Nhất Hạnh) chiếm đoạt hết. TS Thích Nhất Hạnh vẫn chỉ lên tiếng ở hải ngoại không cứu giúp được gì cho đệ tử.

– Năm 2009, LM Trần Công Nghị ở Hoa Kỳ, chủ biên trang nhà VietCatholic News, cũng được cấp chiếu khán, nhưng khi về đến phi trường Nội Bài thì bị chặn lại không cho vào…

– Năm 2011, chị Ca Dao sinh sống tại Pháp, đã nhiều lần về VN, nhưng lần này về thăm mẹ già bệnh, dù TĐS tại Paris đã cấp chiếu khán nhưng khi tới phi trường Tân Sơn Nhất thì bị cấm không cho vào với lý do làm việc cho đài RFA.

– Tháng 7/2012, tòa án Philadelphia, HK, xử vụ án Nexus Technologies, một công ty kinh doanh xuất khẩu của 3 anh em ruột người Mỹ gốc Việt họ Nguyễn ở Philadelphia, tiểu bang Pensylvania, Hoa Kỳ.

Vụ này liên quan đến an ninh và quốc phòng HK, vì hàng xuất khẩu lậu từ HK vào VN bao gồm những thiết bị kỹ thuật điện tử quân sự hiện đại, lên đến mấy chục triệu đô-la Mỹ, như: trang thiết bị để vẽ bản đồ dưới mặt biển, thiết bị dò, tháo gỡ bom mìn, dò tìm các loại hóa chất, phụ tùng trực thăng, thiết bị viễn thông lắp đặt trên vệ tinh… và hối lộ quan chức VN 250.000 đô-la Mỹ, đồng thời cũng là một vụ rửa tiền.

Do đó, 3 anh em phải đối diện với mức án tổng cộng khoảng 100 năm đang làm xôn xao dư luận khắp Âu-Mỹ. Công ty Nexus Technologies đã đóng cửa, tiền bạc tài sản đã bị niêm phong và phải chuẩn bị nộp phạt 27 triệu đô-la Mỹ.

http://www.hennhausaigon2015. com/2012/21064/

– Ngày 24/4/2013, Cục Quản Lý Xuất Nhập Cảnh Bộ Công An CSVN đã ngăn cản không cho ông Phạm Văn Điệp (sinh năm 1968), quốc tịch VN, bay từ Nga vào Việt Nam và dù ông cực lực phản đối, họ đã dùng vũ lực cưỡng chế ông ra máy bay bắt quay trở lại Nga.

Ông Điệp là người Việt qua làm ăn ở Nga, từng về VN và tới gặp cụ Hoàng Minh Chính nên bị công an bắt giữ… Ông đã nhiều lần tham gia biểu tình chống TQ tại Nga và về biểu tình ngay tại VN, chính vì vậy, ông bị cho là “chống đối” nhà cầm quyền CSVN.

************************************************

NGUYỄN MẠNH TRINH

Giấc Mơ? Hoà Giải Hoà Hợp Dân Tộc?

Có nhiều người, cả những nhà văn, có nhận xét rằng ở trong nước đã thay đổi rất nhiều và đó là một chủ trương của những người cầm quyền muốn thoát ra khỏi những trì trệ cho đất nước. Ngay cả trong văn nghệ học thuật cũng có chủ trương như vậy. Và họ dẫn chứng là có những hội nghị Lý Luận Phê Bình văn học đã công nhận một thực tế của văn học Việt Nam và thúc đẩy sự thay đổi: “một số quan niệm cũ không còn phù hợp”, “những gì đã cũ và lỗi thời phải cương quyết vượt qua”, “một số nhà phê bình chỉ quen với những môtíp, mô hình cũ và dị ứng với những biểu hiện mới và lạ. Ðộ bao quát quá hẹp, nhiều ẩn số văn nghệ đứng ngoài tầm với của giới phê bình”. Và với nghị quyết “người Việt Nam ở nước ngoài là bộ phận không tách rời và là nguồn lực của cộng đồng dân tộc Việt Nam” cũng như việc “đối với nhà văn Việt Nam, trước hết và quan trọng nhất trong việc mở rộng quan hệ quốc tế là giao lưu với các nhà văn, các nhà văn hóa, các nghệ sĩ người Việt đang sinh sống và hành nghề ở các nước trên thế giới.” Muốn như vậy, phải rời bỏ cái suy nghĩ tư duy địch bạn của thời còn chiến tranh…

Thế mà từ tháng tư năm 1975, một thời điểm gắng quên mà vẫn mãi nhớ đến bây giờ chừng như vẫn chưa đổi. Ðã mấy chục năm trôi qua cuộc chiến vẫn còn những dư âm đau xót.

Bao nhiêu là hồi ức, bao nhiêu là những vết thương đau. Không phải với riêng cá nhân một người, mà còn với nhiều người và nói rộng ra, cả dân tộc nữa. Những vết chém của hận thù tới bây giờ vẫn chưa lành miệng. Những đau xót đến ngày nay vẫn còn tồn tại trong tim. Nhiều người kêu gọi xóa bỏ chiến tuyến gạt bỏ hận thù. Nói thì dễ, nhưng hiện trạng bây giờ, vẫn còn rất nhiều điều để thấy rằng cái hố sâu ngăn cách dân tộc của thời nội chiến không dễ gì lấp đầy.

Nhất là đối với những người Cộng Sản mà câu nói của cố tổng thống Nguyễn Văn Thiệu ngày nào vẫn còn chính xác “Ðừng nghe những gì Cộng Sản nói mà hãy nhìn kỹ những gì Cộng sản làm.”

Tôi nhớ có lần đã phỏng vấn nhà văn Doãn Quốc Sỹ với câu hỏi “Trong văn chương anh nghĩ có biên giới giữa người cầm bút Việt Nam ở trong nước và hải ngoại? Hoặc giữa người miền Nam và người miền Bắc?” Và nhà văn nổi tiếng của hai mươi năm văn học miền Nam, người đã bị cầm tù và biệt giam nhiều năm vì can tội làm “nhà văn” đã trả lời “Văn chương Việt Nam là văn chương Việt Nam. Ðơn thuần chỉ có vậy! Những người Việt miền Bắc, người Việt miền Nam, người Việt quốc nội, người Việt hải ngoại phản ánh những gì xẩy ra qua lăng kính cá tính văn chương từng người. Cả nền văn chương Việt Nam nói chung do đó mà có được sắc thái lung linh phong phú. Tôi hiểu biên giới trong câu trên là như vậy…”

Với những người mà đảng Cộng sản đã muốn tiêu diệt mà nói như vậy thì không thể kết luận đó là một biểu hiện của hận thù…

Ở trong nước thì Võ Văn Kiệt, một lãnh tụ Cộng Sản đã chết, cũng phát biểu “Ba mươi năm qua, có những bà mẹ ngày thắp hương cho những người con của mình, người là chiến sĩ giải phóng đã hy sinh, người là lính của chế độ Sài Gòn đã tử trận. Phải chăng đã đến lúc chúng ta cần thấu hiểu tâm tình của người mẹ Việt nam, cùng thắp nén nhang cầu cho linh hồn của những người con của mẹ được siêu thoát… ”

Tưởng như thế, nhưng khi đọc trong những tác phẩm mới xuất bản gần đây ở trong nước tôi mới thấy rằng ngay cả những người cầm bút cũng vẫn còn ảnh hưởng cái tư tưởng “địch–ta” khá nặng nề và cái hội chứng thời chiến tranh vẫn còn tồn tại. Mà tư tưởng ấy lại là sản phẩm còn sót lại của một nền văn học cổ võ hận thù, tán dương chém giết, sản phẩm của tuyên truyền, nói láo. Dù có đổi mới tư duy, có nhìn ngắm lại, nhưng ảnh hưởng vẫn còn trong văn chương.

Với những người Cộng Sản Việt Nam, tuyên truyền ở một vị trí xung yếu. Tất cả, trên mọi phương diện đều phục vụ cho một mục tiêu: tạo một bánh vẽ tốt đẹp để cưỡng bách bắt mọi người phục vụ theo đường hướng chỉ định sẵn.

Nhà văn Alekxandr Solzhenitsyn trong diễn văn đọc khi nhận giải Nobel về văn chương đã viết về tính chất của các chế độ độc tài toàn trị như sau:

“… Ai là người sẽ đặt câu hỏi với chúng ta: văn học sẽ làm được gì để chống trả lại sự công hãm khốc liệt của cường quyền công khai? Là: chúng ta phải nhớ mãi rằng bạo lực không thể đơn độc một mình và cũng không có khả năng tồn tại duy nhất, nó bắt buộc phải bắt tay với sự dối trá. Giữa bạo lực và dối trá có mối quan hệ sâu sắc ruột thịt tự nhiên: bạo lực được che đậy kín đáo bằng dối trá và dối trá cũng nhờ vào bạo lực để tồn tại. Nếu có một kẻ nào tự nhận bạo lực là phương pháp áp dụng của mình thì bắt buộc phải chọn dối trá làm chỉ nam hướng dẫn. Khi khởi đầu quyền thế, bạo lực nghiễm nghiên công khai và rất là kiêu hãnh. Nhưng khi đã bành trướng, đủ sức mạnh áp chế với vị trí độc tôn của mình, nó lại cảm thấy bất an với dông bão chung quanh và chỉ thấy sẽ tồn tại được nếu cứ tiếp tục dối trá. Và dối trá đã sẵn được ngụy trang bằng nhũng ngôn từ ngọt ngào hoa mỹ. Bạo lực không nhất thiết luôn luôn bóp cổ bẻ họng trực tiếp dân chúng mà phần đông chỉ đòi hỏi từ nhân dân của chúng một lời thề từ dối trá, để có mặt trong vai trò ấy một cách tự nguyện.

Bước giản dị của một người dũng cảm để chống lại là không tham dự vào trò dối trá và không đi theo những việc làm dối trá. Nếu bắt buộc cứ để nó ngự trị và nếu thống trị cả toàn cầu cũng chẳng sao, ta không đứng về phía nó! nhà văn và nghệ sĩ còn có thể tích cực hơn nữa: chiến thắng sự dối trá. Trong cuộc chiến sinh tử này, nghệ thuật bao giờ cũng đã và đang chiến thắng. Sự ấy hiển nhiên, không một ai có thể chối cãi. Dối trá có thể lừa được rất nhiều thứ trên thế gian này nhưng chỉ bị một khắc tinh: nghệ thuật…”

Trở lại với hiện tình Việt Nam tình trạng tụt hậu hiển nhiên rõ ràng. Từ mọi mặt, là sự sa sút tràn đầy. Xã hội tha hóa, giáo dục xuống cấp, con người chạy theo tiền bạc, luật pháp bất công, kinh tế trì trệ, thì đôi khi những nhà văn đã nhìn lại quá khứ chiến tranh và để tự hào vì những kinh nghiệm sống đã có.

Viết về chiến tranh của một thời đã qua đi, những nhà văn trong nước vẫn không qua được cái tâm lý hận thù của một hệ thống tuyên truyền sắt máu đã có sẵn từ một thời gian dài. Những điều được tuyên truyền như ngụy ăn gan uống máu như những loài thú mất nhân tính tới giờ vẫn còn được viết với tâm tư của thời chiến tranh.

Nếu đã đọc những tác phẩm đại loại như của Tạ Duy Anh hoặc Hồ Anh Thái và quả tình người đọc đã cảm thấy thật xấu hổ khi có những nhà văn được tạm gọi là tiêu biểu cho văn học trong nước mà lại có giọng văn như thế. Như đoạn trích dẫn từ truyện dài: “Ði Tìm Nhân Vật” của Tạ Duy Anh:

“… quân ta ào lên, bắt giết, đâm, dẫm đạp. Một mụ ngụy cái, ngực để trần, miệng há ra ú ớ. Niềm căm thù kẻ hạnh phúc hơn mình bốc lên ngùn ngụt trong ngực mình. Mình găm vào ngực mụ cả loạt khiến ngực mụ vỡ toác mà mặt mụ vẫn chưa hết hy vọng. Giết người lúc ấy sao thấy sướng thế! Một thằng ngụy bị mình xọc lê vào bụng, nghe “thụt “một cái. Mình nghiến răng vặn lê rồi trở báng súng phang vào giữa mặt hắn. Hắn lộn một vòng, gồng mình giẫy chết như con tôm sống bị ném vào chảo mỡ… ”

và một đoạn khác cũng… kinh dị không kém:

“Hai ngày sau bọn địch phản công. Cả trung đội mình bị băm nát. Thằng Thiết bị đạn găm đầy mình, vừa đưa tay ấn ruột vào vừa bóp cò. Bọn ngụy ào lên như lũ quỷ, quyết bắt sống thằng Thiết. Như sau này anh em trinh sát kể lại, chúng quay thằng Thiết như quay một con lợn rồi róc thịt uống rượu trả thù cho đồng đội. Nó đã hy sinh như một người anh hùng trên chiến trận…”

Thế mà, sách của Tạ Duy Anh đã được in ở hải ngoại và có nhiều người cho rằng ông là người có tâm tư “thông thoáng” nhất và tác phẩm được coi là có “vấn đề” ở trong nước???

Và trong “Cõi người rung chuông tận thế” của Hồ Anh Thái (hình như là chủ tịch hội nhà văn Hà Nội) cũng ghê gớm tàn bạo không kém:

“Hùng lao người bơi xuôi theo dòng suối tương đối cạn, xa hẳn chỗ Hoa đang nấp. Lũ thám báo văng tục chạy men bờ đuổi theo. Có những chỗ suối cạn không bơi được Hùng phải chạy. Bốn tên thám báo nhảy chồm chồm trên những tảng đá giữa lòng suối rồi quây được Hùng vào giữa. Anh quật ngã một thằng. Nó cắm đầu xuống nước không thấy động đậy gì. Nhưng những thằng kia đã xúm lại. Chỉ một lát sau, chúng đã lôi xềnh xệch Hùng lên bờ. Thân thể anh bầm dập đẫm máu. Chúng đấm đá anh túi bụi để lấy cung cho tới khi anh ngất đi. Anh tỉnh lại chúng đánh tiếp. Hoa hiểu vì sao chúng không dùng đến súng. Chúng cũng không muốn gây ra tiếng nổ ở vùng rừng này.

Cuối cùng, điều Hoa không ngờ đã tới. Cô chỉ nghĩ rằng bọn thám báo sẽ lôi Hùng đi làm tù binh để tiếp tục lấy khẩu cung. Nhưng thằng cầm con dao găm của anh đã cúi xuống rạch một đường thành thạo trên bụng Hùng. Anh quằn quại hét lên một tiếng rùng rợn. Ở trên cao Hoa nghiến chặt răng gần như ngất đi. Hai thằng kia đè chặt chân tay Hùng cho thằng mổ bụng moi tim gan ra. Chúng nổi lửa nướng tim gan ăn ngay tại chỗ. Hai hột tinh hoàn thì được phân chia cho hai thằng chắc là cấp cao hơn…”

Tôi tưởng những danh từ như “mụ ngụy cái”, “lũ thám báo”… hoặc những chuyện moi tim gan người để ăn nhậu, có lẽ đã mất biệt rồi chứ? Cái văn chương sặc mùi căm thù ấy vẫn còn tồn tại sao? Mà cả với những người cầm bút luôn luôn kêu gọi hòa giải hoà hợp!!!

Nhà văn Dương Thu Hương trong “Tiểu Thuyết Vô Ðề” cũng biểu lộ sự căm thù đúng y như những nhà văn Cộng Sản trung kiên khác. Kể lại những cái chết của những bộ đội nữ bị lính thám báo hãm hiếp hay thái độ hèn nhát của những người lính VNCH khi bị bắt, giọng văn ấy không thể là của một người đã thấy cái phi lý của chiến tranh và cái huyền thoại “chống Mỹ cứu nước” vẫn còn vương vấn. Dù rằng bà cũng hiểu một điều là miền Bắc đã gây ra chiến tranh theo lệnh của Cộng Sản quốc tế.

“Chúng tôi hướng vào góc rừng đã tỏa ra mùi thối khủng khiếp mà đi. Tới vực Cô Hồn gặp sáu cái xác truồng. Xác đàn bà. Vú và cửa mình bị xẻo, ném vung vãi khắp đám cỏ xung quanh.

Nhờ những tấm khăn dù, nhờ những cô chiếc cổ áo sơ mi kiểu lá sen tròn và hai ve nhọn mà chúng tôi nhận ra đây là những người con gái miền bắc. Có lẽ họ thuộc một binh trạm hoặc một đơn vị thanh niên xung phong cơ động nào đó bị lạc. Cũng có thể họ đi kiếm măng hoặc rau rừng như chúng tôi rồi vấp bọn thám báo. Chúng đã hiếp các cô tàn bạo trước khi giết. Những cái xác bầm dập méo mó. Da thịt con gái nõn nà tươi thắm vậy mà khi chết cũng thối rữa y như da thịt một lão già phong lở hay một con cóc chết. Ðám dòi lúc nhúc trong các vết thương, trong các hốc mắt, hốc miệng. Những con dòi trắng nhờ béo tròn. Chúng trị trên các tử thi ngoi lội, trồi lên trụt xuống, vẻ viên mãn của loài dòi bọ.”

Ðọc những đoạn văn trên, đâu có ai tránh khỏi cảm giác lợm giọng. Và, tác giả Tiểu Thuyết Vô Ðề có quá tay để tạo thành những hận thù khi nói về những người thua trận. Như vậy, có thể nói chuyện bình thường hòa giải với nhau không? Thời chiến tranh đã qua, những người ở phe chiến thắng có còn bị khích động của cả một chính sách gây căm thù để dồn toàn lực vào công cuộc chém giết thúc đẩy chiến tranh…

Nhà văn mà còn viết với giọng như thế thì những từ ngữ như hòa giải, hòa hợp, hay hợp lưu, giao lưu.” liệu còn ý nghĩa không? Tôi đọc những hàng chữ ấy và thấy hệ thống tuyên truyền quả đã có tác dụng, không phải với giới bình dân mà cả trong văn chương.

Trong "Nỗi Buồn Chiến Tranh", Bảo Ninh cũng mô tả một cảnh tượng ghê rợn không kém:

“Kiên hờ hững ngó ra sau. À. Một cái xác. Một cái xác đàn bà trắng hếu, ngưc ưỡn dựng lên, chân dang ra như hai lưỡi léo, mái tóc đổ xõa che lấp nửa mặt, nằm gần như chắn ngang trước cửa phòng hải quan. Còn trẻ, mắt nhắm hờ. Dưới lưng không thấy vũng máu…

Chợt có tiếng xe đỗ, tiếng kéo lê rồi tiếng chân huỳnh huỵch. Một gã hộ pháp. Ðội mũ sắt, có lẽ là lính cao xạ từ trong phòng hải quan đi ra khệ nệ khuân trên tay hai két bia 33. Bước qua ngưỡng cửa mắt nghếch lên, gã vấp phải cái xác bị xô chúi tới, ngã sấp. Cả đống bia giáng xuống loảng choảng chai vỡ tan, bia óng vàng tuôn lênh láng. Ðám lính tăng cười ro. Kiên nhếch mép.

Sượng sùng gã sục “đồ cổ” nhỏm dậy tức tối vò hai nắm đấm gườm gườm nhìn những kẻ đang cười nhạo mình. Rồi nhổ toẹt, hầm hầm cái mặt, hắn sấn lại đá tới tấp vào cái vật vừa ngáng chân hắn. Vừa đá vừa rống lên:

“Ð. mẹ mầy, con đĩ! Mày ưỡn của nợ ra đây cho chúng nó ngắm à! Mày gài mìn bố mày! Tổ sư mày, cười cái cắc củ! Ðứa nào thích ngắm nghía mày thì kệ bố mày! Bố mày cứ dọn phắt mày đi!

Chửi đoạn, thằng cha “Chí Phèo” túm lấy một chân người chết xềnh xệch kéo lết đi.

Thằng chó má dã man kéo sền sệt cái xác khốn khổ qua mặt sân bê tông loáng sáng nước mưa và nắng chói, rồi hự, hắn choãi chân vặn lưng lấy đà quăng mạnh, liệng bổng người ta lên.

Xoay lộn mấy vòng, cái xác trắng rợn bay chênh chếch rồi thịch xuống cạnh mấy cái thây lính dù chưa ai dọn. Lưng vừa chạm đất, người đàn bà chết ngồi bật dậy, hai tay đưa vung lên, cái miệng tuồng như há ra chực kêu rồi ngã vật nghiêng, đập đầu xuống. Tên súc sinh khệnh khạng bỏ đi tay khuỳnh khuỳnh ra dáng người hùng…”

Ði xa hơn nữa, Bảo Ninh, người viết truyện ngắn “305” in trong tập “Lan man khi kẹt xe” đã đổ tội cho cả toàn dân miền Nam cái tội vong bản chạy theo đế quốc mà bỏ lại người thân một cách lãnh đạm vô nhân. Truyện ngắn này kể lại chuyện những người lính lái xe tăng mang số 305 trên đường hành quân đã ghé vào một thị trấn nhỏ vào tháng tư năm 1975. Và nhờ cung cách hiền hòa họ đã làm cho người thiếu phụ ở đó cảm mến. Sau đó cả xa đoàn chết hết chỉ còn sót lại một người trở về thị trấn xưa ghé thăm người thiếu phụ ấy. Giây phút gặp lại anh ta mới biết cả gia đình đã bỏ rơi chị để di tản ra nước ngoài. So sánh gia đình chị và anh bộ đội kia chị thấy cảm mến anh bộ đội ấy hơn…

Ở thời điểm bây giờ, mà còn viết với luận điệu như thế, nào ta anh hùng, địch dã man, ăn tim gan người sống. Cái nếp nghĩ, nếp viết ấy đã ăn sâu vào tâm thức người viết và bao nhiêu năm sau chiến tranh mà vẫn chưa hề thay đổi. Nhà văn Phùng Nguyễn nhận xét khá xác đáng:

“… Có quá nhiều điều luôn rắp tâm kéo nhà văn xuống thấp có khi thấp hơn cả mức độ cho phép. Ðó là khi họ, vì một hay nhiều lý do, phải nín thở qua sông, phải viết điều không muốn viết, phải ca tụng những điều không xứng đáng, phải báng bổ điều họ thực sự quý trọng. Họ buộc phải đứng về phía của kẻ mạnh. Nhưng cũng có khi, không phải là luôn luôn vô tình, họ chọn đứng cùng phía với những thế lực đen tối một cách tự nguyện, gieo rắc mầm độc hại xuyên qua việc xiển dương điều trá ngụy. Chính là ở đây, nhà văn trở thành không chỉ là kẻ đồng lõa.

Câu hỏi là bây giờ, các người cầm bút sẽ phải làm gì để hố ngăn cách nhau được lấp dần đi? Cả người cầm bút ở trong nước và hải ngoại? Nhưng xem ra câu hỏi chỉ để mà hỏi.

Khi văn học ở trong nước còn là một công cụ để phục vụ cho nhu cầu tuyên truyền của chế độ hiện hữu thì còn rất lâu sự phân hóa tạo thành chiến tuyến của thời chiến tranh.

This entry was posted in Thời Sự. Bookmark the permalink.

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out /  Change )

Google photo

You are commenting using your Google account. Log Out /  Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out /  Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out /  Change )

Connecting to %s